LÚC CỘNG NGHIỆP CHÍN MUỒI

LÚC CỘNG NGHIỆP CHÍN MUỒI
Tam Tông Miếu
Ngày 22-6 Ất Hợi (Thứ Tư, ngày 19-7-1995)

ĐÔNG chiến Tây chinh, Nam Bắc loạn ()
PHƯƠNG chi () hóa giải () họa lan truyền
LÃO lai tài tận () vô mưu kế
TỔ giáo nhứt thành chế vạn duyên.()
Ý động thì loạn sanh
Tâm bình thì cảnh tịnh
Sóng lặng thì nước trong
Thân tu thì quốc trị.()

Cộng nghiệp () của chúng sanh từ vô thỉ () đến nay, trải qua nhiều đời vô số kiếp, dồn chứa thành núi lớn Tu Di,() (…)
Đến lúc quả cộng nghiệp chín muồi,() rơi rụng thì tan tác, đổ sụp, nghiêng ngã, tàn phá tất cả. (…)

Ngày tận thế là lúc trái đất phải chịu trọng hình.() Sự phán xét toàn bộ trên hoàn cầu, sự hành phạt [để] đền tội, trả quả đã công khai. Vật hữu hình tan hoại đã đành, cho đến vật vô hình, hồn ma bóng quế cũng ùa nhau mà lùng kiếm kẻ thù, oan oan tương báo, không mảy lông nào tránh lọt.

Buổi rốt ngày cùng, ai nợ ai ơn, ai gây ai tạo, ai vay mượn, ai cướp đoạt, lường lận, đến lúc nầy cũng phải thanh toán cho xong. Luật nhơn quả, lẽ công bình, Trời Phật cũng không tư vị () cho được. Nên kỳ tận thế nầy để cho bất cứ ai trên đời còn sống, cũng như chúng sanh bên kia thế giới vô hình, được họp mặt giữa nhau để đền ơn báo oán, thanh toán xong món nợ thân thù, oan ưng đã từng gây tạo.

Kiếp nạn () diễn trình có hại có lợi, có oan có ưng để chúng sanh một lần rửa sạch nghiệp chướng. Ma quỷ muốn gì, Trời Phật cũng cho nó tự do. Thứ gì thuộc về của nó, nó có quyền lấy lại; cái gì của thiên đạo, thiện duyên, nguyên căn bản thể thì không được xâm phạm. Nó thuộc về phần âm, tà tâm, vật dục, mê vọng, bất chính, đều được quy về với âm mà nó làm chủ. Thứ gì, loại gì của chủ nào, [theo] luật công bình được trả lại cho chủ nó.

Còn một giai đoạn cuối cùng, âm tận âm tiêu, dương khí trưởng thay vào làm chủ, thì âm ác, tà dục, khí dơ, cho đến quỷ vương, binh dân của chúng không sao tồn tại. Cảnh giới u minh theo âm mà cáo chung trong kỳ tái tạo nầy.

Sau cuộc gạn lọc nầy là cảnh giới trần gian trở nên cực lạc. Quả đất mới, đời mới, người mới, trong sạch hoàn toàn, tâm linh tỉnh sáng, cuộc sống thuần là hồn nhiên, chất phác. Vạn tượng () cũng một lòng, vạn bang () như một nhà. Trái đất được quét sạch. Lòng người cũng rửa sạch. Trên trời dưới đất một khối thái hòa hít thở trong sạch. Ý niệm hoàn phục lại tiên thiên, linh linh huyền nhiệm. Tình thức cũng y nhiên,() căn cảnh () cũng như vậy, mà chúng xưa khác, nay khác, chỉ có động cơ, mà động cơ do Chí Tôn nắm giữ, không còn lo ngại.

Ngày đại kiếp hủy diệt trong kỳ tận thế tuy là tàn bạo, hung ác, quyết liệt của cơ Trời, bên trong có ẩn ý là giải thoát trọn vẹn cho chúng sanh. Một lần trả xong hết ráo tội khiên oan trái, không dây dưa lần hồi mới trả hết. Cũng như một bản án tội phạm năm, mười năm tù, khi xong được trả tự do; bằng án nặng phải bị chung thân khổ sai; nếu án tử hình thì xử tử là rồi.

Cũng ví như chúng sanh tạo gây ác báo đời nầy, đời khác, án treo quản thúc, sống hành xác, chết đi đầu thai, xuống lên vay trả cho rồi, dằng dai nhiều kiếp. Nếu đền trả mà không vay thêm, biết tu sửa lập công bồi đức thì tiến lên quả vị Tiên Thần; và ví như món nợ khá lớn, không còn cách nào trả được, thì chỉ có tịch biên gia sản ít nhiều, như thế là thanh toán xong.

Nào có khác chi nghiệp ác của chúng sanh, không còn ngày giờ qua nhiều thế kỷ nữa, lúc chung kết là ngày cùng, là nguơn mạt hậu. Thượng Đế Chí Tôn chỉ cần cứu thoát linh hồn, các cửa luân hồi đóng hết, không có đời sau. Đời sau là thượng nguơn, tất cả đều mới, cảnh giới trong sạch trọn lành, cõi Thần Tiên dành cho người chơn thuần linh căn lưu trú.

Nên sự hủy diệt hoàn toàn khắp mặt đất, dọn sạch chông gai rác bụi. Chúng sanh tạo nghiệp nào thì theo nghiệp nấy mà lãnh bản án đến pháp trường. Chết nước, chết lửa, chết vùi lấp, chết đao binh, hay chết loại hình nào tội án đã định. Sát kiếp bằng cách nào bất ngờ không thể biết, cũng gọi tử hình. Nợ nần, oan trái, nghiệp quả đều dứt sạch, như tịch biên gia sản, như tử hình, trả xong trang trải đủ, bỏ xác, hồn được siêu.

Chúng sanh nào không nợ máu, thiện nghiệp, không hại đạo, phản đồ, ý lòng thiện ác quân phân, đến ngày rốt, Thầy (Thượng Đế) trục nguyên tử chơn thần ra, hủy bỏ mạng căn, đó là phương cứu rỗi.

Nếu trong đám chúng sanh nầy thấy tai biến kiếp họa mà biết hồi đầu, quay lại đường lành, truất bỏ dục vọng, tâm tà, thì cũng được đăng siêu.

Còn những nhơn sanh sớm biết hồi đầu, đã vào cửa đạo, tên tuổi vào bộ hồng danh, chưa mấy nhiệt thành, tục tăng lỏng chỏng, gặp lúc tai biến mà phát động tâm từ, đoái hoài đồng loại, phát nguyện bố thí lập công, làm nhơn làm phước, để cầu cho nhơn dân bá tánh qua cơn hoạn nạn, thì môn sanh đạo hữu nầy ý niệm đổi hướng, thẳng đến bồ đề, đạo hạnh, công đức tức khắc giương cao, đứng trên thói tục lòng tà, ra khỏi vật dục lòng trần, tự khắc phàm phu hóa thành Thần Thánh.

Nếu lòng trắc ẩn, tâm từ bi phát nguyện đưa lưng ra hứng chịu, đón nhận khổ đau cho nhơn loại, lãnh thay chịu thế cho chúng sanh, chí khí can trường, có những tình niệm bao trùm một xứ, một cõi, một đất nước nào đương bị sát kiếp hoành hành, trải tâm gánh vác, động đến đất trời, tuy không dấn thân tại trận, cũng được Thiên Đình ghi công, đón mời và trợ giúp cho ý nguyện, chứng đến quả Phật không sai.
Muốn chống thiên tai, sát kiếp, chỉ cần phát tâm công phu thiền định, tọa công ngồi tại đạo tràng mà phóng tinh thần, gieo rải thiện duyên kết hợp với huyền linh ân điển xua đẩy sát khí, tư tưởng càng mãnh liệt, hung sát tự khắc thối lui. 


Thiền định càng thâm, càng giải phóng cứu người càng dễ.
Chư môn sanh đạo hữu khéo vận dụng tâm ý đi đúng đường, ứng dụng vào động đích () cũng kết quả. Tâm ý là cái động cơ chủ tể nơi người, tác phước tạo nghiệp do nó. Thiên đường hay địa ngục bởi tâm ý mà có ra. Người chủ trì được tâm ý, làm Tiên làm Phật rất dễ dàng; mà để tâm ý xiêu dạt, nó sẽ đưa người vào vực sâu biển khổ.

Trong lúc tai biến, động loạn xáo trộn trên hoàn cầu, là một cơ hội cho đạo hữu phát tâm, gieo tư tưởng sự sống tình thương đến những nơi có tai biến, kết quả rất lớn mà tiến đạo rất mau. Tu một lúc cũng bằng tu trọn đời. Dầu tu trọn đời mà không gặp cơ duyên, cũng không bằng tu một ngày có cơ hội.

Con người có Phật tâm, đạo đức, trông thấy cảnh lầm than liền động lòng thương xót; đâu như chai đá mà chẳng thấy khổ tâm. Đạo hữu chuyên cần công phu tu học thiền định, tạo một bầu hạo khí thái hòa chở che cho Thánh Hội, cho đạo tràng, cho thân, cho xứ sở. Đó là công đức tăng cường nghị lực, làm chủ nội ma ngoại chướng.() Khí lực được dồi dào, tinh thần minh mẫn, sức khỏe gia tăng, lập chí dẻo dai, nhiều ngày nhiều tháng lo không thành Phật được sao?
Đạo giáng hỏa trạch,() Đạo khai trong lúc kiếp nạn, tiếp độ người lành kẻ dữ; biết giác ngộ thì giải thoát mau lẹ. Thế gian mê nhiễm sâu dày, không dụng oai linh có mấy ai thức tỉnh. Đời hay cậy sức mạnh, tài trí, danh lợi; đến lúc âm dương ngũ hành hậu thiên bị thâu hồi, tất cả gì gì cũng hóa thành vô dụng, kẻ trí mới thấy được chỗ sâu kín ẩn khuất bên trong cái sở hữu của họ.

Cái thấy nghe, hay biết tầm thường, hạn hẹp của thế gian, bởi chấp cái tiểu ngã; nó làm hỏng mất cái nguyên cơ. Nó đóng khung cái tâm tánh vào trong ý niệm nhỏ bé, nên lương tâm không chỗ mở rộng. Nếu con người tu hành trừ bỏ được cái ngã thân, mới trương nở () tứ vô lượng tâm (từ bi hỷ xả). Ngã chấp không còn, thì căn cảnh ý tình, thức tâm hoàn thiện.

Tâm tánh hoàn thiện hợp với huyền linh, tương đồng cùng trời đất, giao liên các cảnh giới thanh tịnh. Dọc theo một hệ thống siêu linh, có một lực lượng chạy dài qua thời gian, trải khắp không gian; nó quét sạch được độc khí, ác chướng ma tà. Nên khi các động cơ tâm đạo khởi tác hướng về đâu, đến cảnh giới nào, kéo luôn một đoàn linh khí theo tâm hướng, trở thành một sức mạnh đánh tan mọi chướng hóa. Mọi dị biệt tức khắc phân khai, mà cõi nước, địa giới hay cá nhân đó, trở lại bình thường thanh lặng. Nên những hành giả, giờ giấc công phu sản sanh điển huệ, luật đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu, kết nên một tràng hạo khí lan tỏa đến đâu cũng giải tán được trọc âm chúng tụ tập để gây tai biến.

Nên công phu thiền định, tịnh tu ở chùa chiền, có một công năng rất linh diệu. Kẻ phàm phu đến đó, hấp được khí thiên đánh lui ý tà ám độn() bất an, được khỏe vui cảm khoái mà tỉnh ngộ. Ấy cho nên chư môn sanh kết hợp liên thủ() cùng nhau hành thiền nhập tịnh, bảo quản đạo tràng, thánh sở, mà sát nhập cùng Thiên lý lưu tán trong nhơn gian, tiêu trừ sát nghiệp.

Vì cớ đó mà Bác Nhã Thiền Sư trộm nghe thánh ý, trông thấy trẫm triệu() không lành, luồng ám khí lảng vảng trên nền đất nước nhà, nên Ngài lập tức nhập thần cho Huyền Như Như Tịnh báo động, để chư thiên ân và đạo hữu chia công, kết nối, xin nguyện tịnh công, hành thiền để hòa hợp điển lành cho Thiêng Liêng sử dụng. Đó là một dịp tiến đức tấn đạo, tăng trưởng đạo tâm, mà còn góp công lập nên công đức, kết duyên cùng đồng loại và các liên bang trên đại địa.
Vậy Bần Đạo lãnh Thiên mạng ban lịnh cho Minh Lý Thánh Hội và Hội Thánh Truyền Giáo y lịnh thi hành.
(…)
Bần Đạo ban ơn, chào mừng chư Thiên ân và môn sanh nam nữ.
Share:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Google Translation

Blogger Tips And Tricks|Latest Tips For BloggersFree BacklinksBlogger Tips And Tricks
English French German Spain Italian Dutch Russian Portuguese Japanese Korean Arabic Chinese Simplified
Powered By google

Tìm kiếm trong Blog này

Featured Post

10 Lịch sử Đức Ngô Minh Chiêu

10 Lịch sử Đức Ngô Minh Chiêu

LỜI NGỎ

Kính quý Huynh Tỷ, Đây là trang cá nhân, các bài được sưu tầm trên mạng INTERNET để học hỏi và chia sẽ với bạn Đạo . Kính

XEM NHIỀU NHỨT

BÀI MỚI

Follow by Email