TU CHƠN GIÁC THẾ

HƯ CUNG ĐÀI

Kiểm Duyệt Ngày 9 Tháng 9 Bính Ngọ

(22-10-1966)

THI :

NHƯ tánh luyện tu đạo đức hành,

Ý đồ nghiệm xét lánh hư danh;

NƯƠNG theo chơn pháp lo trừ trược,

NƯƠNG lấy cơ tâm để lóng thanh.

NGUYỄN phủ khai quang hồi phước cả,

THỊ thiên vui sống tránh đường quanh;

MINH quang phóng thước dìu đời bước,

HỒNG bác độ tha đạo phúc lành.

NƯƠNG NƯƠNG mừng chư hiền đệ muội.

THI :

Hương thơm bay khắp chốn đàn tiền,

Rượu thánh mùi ngon gội phước duyên;

Kinh tả truyền ban ghi kỉnh dạ,

Khuyến tu thế đạo gắng tâm thiền.

Hôm nay NƯƠNG NƯƠNG vâng sắc chỉ NGÔI HAI GIÁO CHỦ giáng đàn tả kinh “TU CHƠN GIÁC THẾ

Vậy chư hiền nam nữ khá tịnh tâm, tịnh đàn nghe NƯƠNG NƯƠNG chỉ giáo :

            CHƠN ĐẠO

 

Đời là cõi tạm, có rồi không, hiệp rồi tan, sanh rồi tử…. Còn Đạo dầu rằng không hình tướng, nhưng biến hóa vô cùng, mầu nhiệm. Khi con người thuận nhận và biết đặt mình vào khuôn trường Chơn Đạo, rồi mới thấy tác dụng mầu nhiệm siêu ứng là dường nào.

Hôm nay NƯƠNG NƯƠNG không muốn diễn tả lại những lẽ thông thương như phần phổ giáo công truyền nhập thế, mà NƯƠNG NƯƠNG dẫn giải sau đây :

Tu nghĩa là gì? Hẳn chư hiền đệ muội cũng đã am hiểu là sửa, là trau giồi tâm tánh để trở thành con người đạo đức, mà một khi con người biết sửa được sự lỗi lầm, sai quấy, biết đối xử cái Đạo làm người rồi tức là : CON NGƯỜI ĐÃ THÀNH CON NGƯỜI. Ví dụ như : người uống rượu, bạc cờ mà bỏ được đó là thành trong sự việc, cũng tạm gọi là con người thành tại thế với những lỗi lầm, bịnh tật lôi cuốn con người mà bỏ được. Có phải là thành NGƯỜI chăng? Và khi được hoán cải được trọn lành tức là bước vào hàng siêu nhân. Từ cái thành bực siêu nhân được vào trường Tu Tịnh phần Chơn Đạo, người tu rất dễ trở lại ngôi xưa vị cũ, tác thành Tiên Phật để xa lánh cõi trần ô trược kềm buộc.

Vậy người tu cần phải TU LUYỆN, tu luyện Đạo để siêu phàm nhập Thánh.

Nhưng trước khi muốn luyện tu Chơn Đạo, chư hiền đệ muội phải tâm thức về nhơn đạo, cụ thể hóa như đối với việc gia đình, đừng để có sự trì níu, hầu có yên tâm, rảnh trí ngồi tu tịnh luyện.


HƯ VÔ CHƠN PHÁP :

Tiên Thiên diệu pháp biết tầm tu,

Mở cửa vô vi vạt ngút mù;

Bể khổ lấp lần xa nghiệp chướng,

Đường mê tránh khỏi được khinh phù.

Tà tâm diệt dứt rèn tâm huệ,

Linh tánh sáng soi phá tánh ngu;

Ích kỷ hại nhơn đừng học hỏi,

Bồng Lai bước tới cảnh nhàn du.

BÀI :

          Đường giải thoát Đạo Trời rộng mở,

          Sự tu chơn soi tỏ linh hồn;

                   Đừng nên tự phụ tự tôn,

Cũng không bất cập bôn chôn rộn ràng.

          Người tu tịnh hữu căn mới được,

          Bằng không thì vô phước quỉ lôi;

                   Để mê tưởng luyến tiếc đời,

Đem mồi câu nhử rồi thời sang ngang.

                             Trước tu thân,

                             Vững tinh thần;

                             Đạo pháp phân.

          Hễ tu tịnh ngũ quan vận chuyển,

          Lúc tham thiền phát triển tâm khai;

                   Định, yên không vọng bên ngoài,

Gom thần tiếp chuyển đến đài Hư Vô.

          Luyện chơn ngươn đáy hồ tịnh lặn,

          Nguyên lý tầm rửa đặng tâm không;

                   Vận hành chơn khí nội công,

Kết xâu xá lợi khai thông có đều.

          Biết nấu thuốc rêu rêu ngọn lửa,

          Để chơn cơ sửa chữa giác quan;

                   Hà phanh thể luyện nhịp nhàng,

Khãm ly biến hóa, Khôn càn định phân.

          Phải biết lọc Khí, Thần, Huyết hóa,

          Tinh điển truyền phát họa Bảo Ngươn;

                   Rồng lên cọp xuống thể phân,

Âm dương kết tụ lần lần chuyển thân.

          Hống diên chế ân cần nhuận bổ,

          Cân lượng đều đừng có giảm tăng;

                   Địa nhi hỏa vọng sanh bằng,

Tinh đầy, khí đủ, thần an mới tài.

          Pháp định chuyển kêu mây, hú gió,

          Giữ bình thường được ngộ huyền quang;

                   Dày công hô hấp giáng thăng,

Hậu thiên động tác để phăng Nê Hườn.

          Lý siêu việt linh hồn tối yếu,

          Điều hành sao đừng thiếu đừng dư;

                   Đảnh cao bể cả ý như,

Lóng trong gạn đục cộng trừ Hà Xa.

          Luyện hồn phách biết qua xuất nhập,

          Tầm song mâu bồi đấp tinh vi;

                   Chuyển luân tâm pháp đúng kỳ,

Để hầu đem lại Tu Di chiếu lần.

Hành trụ tọa ngọa phân nắm pháp,

Yểu yểu khai hòa hạp Huyền Huyền;

          Mồ Kỷ nhị Thổ kết liên,

Minh Châu thành tựu phục nguyên đẹp màu.

          Việc động tác phải sao đều ổn

          Tâm cơ gìn, hễ thốn, thận suy;

                   Đồ thơ ôn cố tinh vi,

Giữ gìn bốn buổi chớ ly dặn lòng.

          Say mùi Đạo hoát thông chơn pháp,

          Mới trở về bửu pháp Phật Tiên;

                   Chớ cho ám ảnh, nhiễu phiền,

Tịnh ngồi đúng hướng khí thiên đủ đầy.

          Tịnh cho đúng siêu khai thần, khí,

          Thận định yên kiến thị Kim Đơn;

                   Vận hành phân tách cộng nhơn,

Rồi đem Nguyệt Khí bảo tồn Chơn Dương.

          Lẽ tịnh động hai đường mà một,

          Tịnh trong Động thâu được Châu Thiên;

                   Điều hòa chuyển vận liền liền,

Thần công thể dụng Hạo Nhiên tụ hườn.

          Phép Siêu Xuất Kim Đơn chế luyện,

          Không mà Có vận chuyển kịp ngày;

                   Cho nhằm, cho đúng nhập khai,

Để rồi kết lại thánh thai mới mầu.

          Còn khi động vận thâu xuất nhập,

          Để dương thần huyền pháp khai minh;

                   Dưỡng nuôi khí hạo trọn gìn,

Đừng cho nóng quá làm chinh Huỳnh Đình.

          Hiểu tân pháp trường sinh cấu tạo,

          Rán tầm cơ thông thạo công phu;

                   Quán canh Cửu Khiếu đừng lu,

Gắng công giồi luyện khỏi hư, khỏi mòn.

                             Hiểu mất, còn,

                             Chú niệm tròn;

                             Tạo lòng son.

          Lò Tạo Hóa pháp môn luân chuyển,

          Máy vô vi ẩn, hiện diệu huyền;

                   Huân chưng lọc kỹ thường xuyên,

Âm Dương kết cấu đem lên Nê Hườn.

          Biết trúc kỷ nhịp nhàng sắc chói,

          Phép thượng đằng Sóc Hối lưỡng huyền;

                   Muốn thành cho được Phật Tiên,

Trường sinh qui hướng tầm nguyên chơn truyền.

          Hãy cố gắng tường (tương) liên hồn xác,

          Xác hóa phân, Hồn đạt bửu nguyên;

                   Xác kia tẩy sạch não phiền,

Thì hồn trực giác cảnh Tiên siêu đằng.

THI :

Tu đơn tụ Khí được an Thần,

Ráp máy Càn Khôn chuyển phép chân;

Bộ phận lau chùi thường bốn buổi,

Hào quang mới chiếu thấy Kim Thân.


Hỡi chư hiền đệ muội!

Phương pháp luyện tu Chơn Đạo Cao Đài, là một phương pháp “KHẮC KỶ SIÊU NHÂN” để đi đến “PHẢN HƯỜN HƯ VÔ CÀN KHÔN ĐỊNH VỊ”.

Sự vận chuyển định tịnh chế phách luyện hồn phải được “BẤT TƯỞNG NHIỄM DỤC”, biết động trong lúc tịnh, dùng cái phép “THỨC ÂM PHÁT DƯƠNG” trong lục căn :


THI :

THẤY mà không tham, không muốn,

NGHE mà chẳng động, chẳng cảm;

NGỬI mà không say, không mê,

NẾM mà chẳng thèm, chẳng nghĩ.

MÌNH giữ đặng sạch, đặng khỏe,

Ý giữ đặng lành, đặng vui.

Tóm lại là “SẮC TỨC THỊ KHÔNG, KHÔNG TỨC THỊ SẮC”.

Hỡi chư hiền đệ muội!

Vậy, sự khích động tâm hồn do vật chất bao vây. NƯƠNG NƯƠNG nhìn qua thấy có một số đệ tử của Thầy đã bước sang ngang trở lại trong vòng quanh quẩn thế tục, bỏ vở công phu luyện tu Chơn Đạo, để rồi sa vào kiếp luân hồi, quên căn xưa vị cũ.

Sự cám dỗ, quyến rũ của vật chất không phải là việc khó, không làm được. NƯƠNG NƯƠNG cũng nhắc lại câu : “CƯ TRẦN BẤT NHIỄM TRẦN” là khi nào chư đệ muội may mắn, hữu phước được gội lấy hồng ân, do nơi tiền kiếp mà nay đặng hưởng, biết xem lấy đó là phương tiện dưỡng sinh, không phải là cứu cánh, không vì, cái Có đó mà lung lạc tinh thần, mà vẫn giữ vẹn ý chí tâm pháp. Như vậy, mới gọi là “Bực Đại Nguyên Căn”.

THI :

Chẳng phải ai tu cũng đặng thành,

Căn cơ luật định rạng đề danh;

Sớm trưa động tịnh nên gìn kỹ,

Khuya sớm phát thâu khá giữ rành.

Thuận, nghịch vận hành cho đúng phép,

Giáng thanh điều khiển biết hườn thanh;

Gắng lo một lúc vui Tiên cảnh,

Lánh chốn mê đồ mãi tử sanh.

Hỡi chư hiền đệ muội!

Sự tu tịnh phải thuận nhận xác đáng, trên hai đường : công quả và Bí truyền. Khi công quả được bồi đấp đầy đủ hay là tương đối. Đó là lập công chưởng đức thì sự tu tịnh dễ bề tham thoàn nhập định. Đó cũng là xây đắp móng nền để tránh được bao thử thách.

THI :

Khảm Ly chiết bổ phục ngươn thần,

Luân chuyển nấu nung hóa pháp thân;

Luyện chế cho thông làm chủ sử,

CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO chiếu siêu quang.

 

THI :

Quang điển hứng thâu định pháp mầu,

Hườn Cung hội điểm một tay thâu;

Tu chơn hành đúng lần lần bước,

Đừng tưởng sao lâu lại vọng cầu.

BÀI :

          Muốn đặng ngọc lên non tìm kiếm,

          Muốn thành Tiên tu luyện Pháp môn;

                   Phải thông bí quyết chơn ngươn,

Lập thành đủ số bảo tồn căn cơ.

          Hãy chỉnh độ đắp bờ Kinh Lộ,

          Khai đơn điền nhớ cố gắng lo;

                    Pháp Xa chuyển vận lần dò,

Đun lên thể dược thổi lò âm dương.

          Sanh, Biến biết khai đường mở khóa,

          Đem Hỏa Hầu, Lục Bá cho rành;

                   Thai Tâm nuôi dưỡng hóa sanh,

Tẩm bổ Tam Bửu kết thành chẳng sai.

          Đường siêu thoát Thánh Thai kết tụ,

          Biết phân rành Thức, Ngủ Chơn thanh;

                   Công phu ai cũng muốn thành,

Cái tâm đừng để quẩn quanh luân hồi.

          Hiểu nghịch thí vun bồi phản vận,

          Hóa thần quang tinh tấn cấu sanh;

                   Càn dương yểu yểu tạo thành,

Can tâm giao hãm Khảm linh nguyên hườn.

          Soi căn huyệt bảo tồn sanh khí,

          Tánh thuần dương ngọc ký Ngươn Tinh;

                   Phách hồn luyện chế minh minh,

Cho tâm thân (thận) chuyển bửu linh giao hòa.

          Tầm bí quyết đường xa chớ vội,

          Khá ngồi lì phăng mối hoát khai;

                   Thời kỳ Tân Pháp Cao Đài,

Công phu vận chuyển miệt mài sơn nhơn,

          Chuồng biết mở Thỏ khôn tránh hỏa,

          Biết phá chậu thì Cá hóa Long;

                   Luyện tu chơn tánh không không,

Thổi lò bát quái ngoài trong châu hườn.

          Sự biến thể nấu đơn nhựt chiếu,

          Đem Chơn dương dùng Thiếu âm hòa;

                   Mộc kim hiệp nhứt sáng lòa,

Bợn tâm đốn tuyệt đơn sa cấu thành.

          Nhờ đại tịnh quân bình ngũ tạng,

          Khai pháp quang chiếu sáng Nê Cung;

                   Đừng cho hỏa dục hành xung,

Thủy yên tịnh định, hồi xuân thượng đằng.

          Giữ giống tốt vun phân tưới nước,

          Lý Thiên nhiên hiểu được tầm nguyên;

                   Tạo gầy nhứt khí Tiên Thiên,

Vẽ hình Thái Cực Huyền Huyền Minh Minh.

          Tịnh động hợp Ngươn Sinh lo ráp,

          Đây thời kỳ Tân Pháp Cao Đài;

                   Như cây trồng được trái say,

Vô vi nhiên hạo hoằng khai Tâm truyền.

          Tu luyện đúng thành Tiên tại thế,

          Ví trần gian như thể Thiên Thai;

                   Công phu gắng chí miệt mài,

Đúng mùa đúng tiết nhập đài hư vô.

          Tịnh cho đạt pháp đồ xuất hiện,

          Đặng thông công tiếp điển Siêu Sinh;

                   Phách hồn chuyển hóa thay hình,

Sáng soi Thánh Đức Tổ Đình Chiếu Minh.

Hỡi chư hiền đệ muội!

Trược trần đã lôi cuốn người đời lẫn Đạo sa vào sự hám vọng văn minh vật chất, chuốc lấy biết bao cảnh khổ thân nhọc trí, nên chôn vùi bao tâm hồn vào chốn sông mê.

Vậy muốn xa lánh, muốn giải thoát dây oan nghiệt cõi trần, đường tu luyện cần áp dụng phương pháp DƯỠNG TÁNH, ĐỊNH THẦN HỒI QUANG PHẢN CHIẾU để vứt bỏ cái tham vọng, nhờ biết TỈNH, ĐỊNH, YÊN hầu có phát huy DƯƠNG SANH để chuyển hồi THẦN CÔNG cho DƯƠNG SANH CHÁNH KHÍ tránh được tẩu lậu.

Được vậy, sự cấu tạo hình thể khoáng đạt, linh quang chiếu tỏ, trí huệ khai thông. Đó là điều tối yếu cho người tu tịnh. Chẳng phải lúc đầu tiên nhập tịnh mới tác động công phu, mà người tu Chơn Đạo dầu liệt vào hạng Thượng Thừa cũng phải ôn dưỡng khổ luyện thường xuyên cho đến khi đặng thành Tiên, tác Phật.

THẬP THỦ LIÊN HƯỜN :

1 .      Nấu thuốc Trường sanh nhúm lửa đều,

          Khi nào cao ngọn biết lo khêu;

Đừng cho xuống thấp e sai độ,

Huyền Khí hằng lo giữ sắc nêu.

 

2 .      Nêu cao Huỳnh Lão Hạo Nhiên truyền,

Ngoại Thận biết gìn Nguyệt Khí biên;

Tinh chiếu dương tùng, Thần dưỡng khí,

Tam Huê tụ đảnh trúc cơ huyền.

3 .      Huyền Ngươn, Ngũ Khí chuyển từ phần,

Mở Khiếu Huyền Quang, thuốc lượng phân;

Dương Hỏa tấn khai, Phong Tốn thối,

Nhập Lư Tam Bửu chiếu Huyền Ngươn.

 

4 .      Ngươn Tinh chứa đủ Khí Huyền khai,

Nhâm Đốc mạch phân khéo sắp bày;

Qua lại Khí Thần gìn đúng mực,

Kim Quang chiếu sáng bệ cao giai.

 

5 .      Giai tầng nội giới vận Hồng Sa,

Luyện được thuần dương chớ để già;

Cũng chẳng cho non rành Ngọc Dịch,

Ngươn Môn siêu tuyến kết đơm hoa.

 

6 .      Hoa trổ đẹp xinh pháp chuyển đều,

Âm Dương Huyền Khí hiểu đường thêu;

Trường kỳ phanh chế theo Tân Pháp,

Luyện hòa thấu đáo gió mây kêu.

 

7 .      Kêu mưa hú gió pháp môn thâu,

Vận võ hành văn Long Hổ chầu;

Hoán tượng minh minh hồi đảnh thượng,

Hườn hư tụ hội đạt cơ mầu.

 

8 .      Mầu nhiệm anh nhi kết thánh thai,

Thủy Kim chế luyện pháp đồng khai;

Khá thông Đắc Nhứt và Tây Tử,

Chơn thủy Tiên Thiên tựu đảnh đài.

 

9 .      Đài Cao Mộc Hỏa hiệp giao đầu,

Nam Nhị, Đông Tam luyện đúng câu;

Chơn Hỏa Tiên Thiên thành tự chế,

Ngũ Tam hợp lại đắc Huyền thâu.

 

10 .    Thâu hình tượng đủ Pháp chân huyền,

Xá Lợi tụ thành tiếp điển thiên;

Biến hóa âm dương xây khí hạo,

Linh hồn siêu đắc đắc Chơn Tiên.

. . . . . . . . . . . . .

Hỡi chư hiền đệ muội!

Người tu mà có luyện cũng như thuyền có lái, để đi đến cảnh cũ, quê xưa trở về ngôi vị.

Vậy, sự tu tịnh theo Chơn Đạo là để cho người đạo biết tầm lấy ánh sáng Thiêng Liêng, làm cho giác huệ tâm hồn tiến đến con đường siêu việt, tức là : CON ĐƯỜNG THÀNH TIÊN TÁC PHẬT.

THI :

Phanh tu luyện kỷ Thượng Trung Điền,

Lưng thẳng vận hành đạt pháp nguyên;

Không thật là không xoay yểu yểu,

Có sao đặng có chuyển hoài hoài.

Đường quan nam hiểu lo làm chủ,

Lưỡng trấp nữ thông biết định yên;

Tịnh thủ hư vô chơn ý giữ,

Tay thâu Bát Quái đắc Chơn Truyền.

Hỡi chư hiền đệ muội!

Tu Chơn Đạo Pháp Môn muốn tác thành không phải là khó, không đạt được. Điều mà chư hiền đệ muội cần là phải diệt được vọng ý, động tâm, có một ĐỨC TIN, QUYẾT TÂM là đi đến sự kết quả.

Vậy sự tu tịnh theo chơn truyền tân pháp Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh, là một pháp ứng siêu nhiên, biết gìn theo thể tu của NGÔI HAI GIÁO CHỦ làm phương pháp căn bản, thì sự biện chứng chơn đạo sẽ thâu thập tác thành quả vị.

Hỡi chư hiền đệ muội!

Phần Hư Vô chơn pháp mà NƯƠNG NƯƠNG truyền dạy đây là một Tịnh Pháp Siêu Kỳ, theo lối công phu linh động tùy lúc tâm cơ chuyển hóa, biến chế đúng theo huyền tẩn xuất nhập, dưỡng Tinh Sanh, bảo Ngươn Thần, thâu khí Hạo Nhiên, Tam Bửu giao hòa đem lại kết quả mau lẹ.

Vậy chư hiền đệ muội hãy suy nghiệm theo lời NƯƠNG NƯƠNG chỉ dẫn . . . . . . . .

THĂNG

--

Share:

TU TÁNH LUYỆN MẠNG

TU TÁNH LUYỆN MẠNG:- NHỮNG GIỚI
    QUAN TRỌNG CẦN PHẢI TUÂN GIỮ.

                      Tịnh Đường.
Tý 8-10 Ất Tỵ (31-10-1965)- Đại Đạo 40.
                             THI
NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ giáng lần Ba,
Khuyên dạy đàn con giữ hiệp hòa.
Đạo Pháp gắng công tu trọn vẹn,
Ngày thành Quả Đạo được gần Cha.

    Thầy các con. Thầy mừng các con.
    Thầy vui mừng được thấy một số các con có chí nguyện tâm tu để
thoát ra cõi đời ô trọc nầy, đặng mong ngày về nơi Hư Vô tịch diệt, là
cõi sống đời đời. Cái chí nguyện đó con nào ít nhiều cũng có, nhưng về
phần công phu tu hành để đạt được chí nguyện đó, Thầy thấy chưa có mấy
con làm được. Cũng bởi mỗi con trong Thân Tâm còn nặng mang một mớ
tiền khiên oan trái chưa cởi mở ra được, nó thường khiến cho các con
phải náo loạn Tâm Thần khó mà mở được Quang khiếu để cho Chơn Thần
thoát ra khỏi cái xác thịt nặng nề trọng trược nầy để được lên nơi
Thượng-Giới. Cũng bởi các con chưa làm chủ được cái Tâm để cho nó
duyên theo trần cảnh như vượn leo cây, hết cây nầy sang cây khác mà
không biết chán mỏi. Cũng chưa có mấy con thấu rõ chữ TU là gì?
    Từ xưa đến nay, trải qua ba đời: Quá khứ, hiện tại, vị lai, chư
Phật Thánh Tiên tu hành Đắc ngộ Chơn Truyền Đạo Pháp cũng không có gì
lạ cả, chỉ làm chủ được cái Tâm của  mình mà thôi. Bốn Thánh, sáu phàm
cũng bởi Tâm người mà có. Phật đã nói nhứt thiết do Tâm. Tâm mê thì ở
trong vòng Lục-Đạo. Tâm ngộ thì được ở cõi Tứ Thánh. Hễ con nào còn
Sắc Dục ái ân thì phải chịu trong vòng luân hồi sanh tử, chịu đời đời
làm súc sanh. Con nào Tham lam bỏn xẻn, thiếu lòng Từ thiện cứu độ
chúng sanh thì phải chịu nghiệp làm Ngạ Quỷ. Con nào ác độc thiếu sự
hòa ái thân yêu thì phải bị cái nghiệp quả đời đời ở nơi Địa Ngục. Con
nào Tâm còn nóng nảy, Sân hận, ưa thích giành giựt cấu xé lẫn nhau thì
phải chịu cái nghiệp A-Tu-La.       Con nào xử xong phần Nhơn Đạo
quyết dạ tu trì, có công phu tu luyện, nhưng chưa đoạn tuyệt mối nợ ái
ân, thì phải chịu làm Thiên Long ở trong Ba cõi Dục-giới, Sắc-giới,
Vô-sắc-giới, tuy tuổi sống hàng triệu ức kiếp, cảnh sống hưởng đầy đủ
mọi sự an lạc, nhưng cuối cùng cũng phải chịu ở trong vòng luân hồi
sanh tử, nên Phật gọi một nạn trong bát nạn. Còn những con xử xong
được phần Nhơn Đạo nhưng kém phần tu hành, ít làm phước đức thì phải
chịu làm người ở cõi Diêm Phù Đề nầy, chịu trong luật trả vay, vay
trả. Nếu duyên gặp Đạo quyết tâm trên đường tu luyện, thì mới thoát ra
khỏi vòng trói buộc của  Luật Luân-hồi, còn không may thì cũng phải
chịu mải miết trong lăn quay theo bánh xe sanh tử, làm sao thoát ra cho được.
     Đó là Thầy nói qua con đường Lục-Đạo cho các con được hiểu, để
các con tự mình giác ngộ tìm đường giải thoát ra những cảnh khổ ấy, để
rồi đưa mình lên hàng Tứ Thánh toại hưởng cảnh thanh nhàn bất sanh,
bất diệt.
     Con đường Đạo Pháp Thầy ban truyền cho các con Lần Ba nầy là Tu
Tánh-Luyện Mạng hay là Tánh Mạng Song Tu.
     Ngày xưa Phật chuyên về phần Tu Tánh mà không nói đến Luyện Mạng,
là bởi thời kỳ đó cảnh đời còn an lạc, thanh khí còn nhiều, bẩm thụ
Tiên-Thiên còn khá, nên không nói Luyện Mạng, mà Mạng của  con người
bấy giờ vẫn được lành mạnh, tráng kiện.
     Ngày nay các con sanh ở cõi đời Mạt Kiếp, Tiên- Thiên bị giảm,
Hậu-Thiên dấy loàn, nên phần nhiều loài người hay sinh ra tật nguyền,
ốm yếu, nên phương pháp Tu Hành là phải làm sao cho Tinh-Khí-Thần được
đầy đủ. Tinh-Khí-Thần có đầy đủ thì thân thể mới mạnh lành. Thân thể
có mạnh lành thì Tiên-Thiên, Hậu-Thiên mới được giao hòa, Chơn Thần
mới nương theo đó mà biến hóa.
      Nên Tu khổ hạnh là để diệt Ma Nghiệp bởi xác thân ô trược gây
ra. Nhưng nếu xác thân quá tiều tụy thì cũng khó luyện thành Kim Đơn
Đạo Quả. Nên ngày xưa Phật Tổ trải thời gian khổ hạnh, sau cũng phải
nhờ bát đề-hồ (tức là sữa chưng) mà sức lực hồi phục, Đắc được Tam
Minh mà thành Chánh đẳng, Chánh giác. Nhưng nói Tu Mạng không phải là
quá dung dưỡng xác thịt để cho Bát Thức làm chủ thì cũng uổng mất một
đời tu chẳng nên gì! Cho nên Đạo Thơ nói luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí
hóa Thần, luyện Thần huờn hư, luyện Hư huờn Vô.
     Hư Vô tức là tịch diệt vậy. Mà Hư Vô là gì?
     Có phải Tu Tánh-Luyện Mạng đi đôi? Nếu Vọng Tâm Bát Thức chưa
chuyển thành Trí, Chơn Tâm chưa sáng tỏ, hoặc nghiệp còn nặng mang,
thì làm sao mà huờn Hư,  huờn Vô? Huờn Hư, huờn Vô có phải là nhờ Tu
Luyện đến được chỗ cực kỳ thanh tịnh chăng?
    Thầy nói thế là mong con chú tâm về phần Tu Tánh. Tánh Tu được thì
ngày thành Tiên, tác Phật không khó. Con tự xét, nếu trong người của
con phiền não, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Thân kiến, biên kiến, chưa
diệt sạch, chưa làm chủ được Lục-Căn, Thất-Tình Lục-Dục dấy động thì
làm người còn chưa xong, có mong gì đến hàng Tứ Thánh? Cho nên phàm
cũng Tâm con mà ra, nên Pháp-môn cầu đạt địa vị Tiên Phật, cốt ở Tu
Luyện sao cho Tâm Tánh mình trở nên thanh tịnh. Muốn thanh tịnh thì
trước phải trừ khử Dục tình.
     Thanh Tịnh Kinh nói: Nhơn năng thường khiển kỳ dục nhi tâm tự
tịnh, trừng kỳ tâm nhi Thần tự thanh, tự nhiên Lục-Dục bất sanh, Tam
Độc tiêu diệt, nếu tu mà Tam Độc chưa trừ, Lục-Dục chưa diệt, thì mong
gì đến chỗ  không vô sở không, sở không ký vô, vô vô diệt vô, vô vô ký
vô, trạm nhiên thường tịch, tịch vô sở tịch, tức Đắc Chơn Đạo. Mà có
Đắc được chỗ  Chơn-Đạo mới mong thành Tiên, tác Phật đó con.
     Thầy thấy có nhiều con hiểu lầm Pháp tu của  Thầy, cứ lo về phần
Luyện Mạng nói đó là TU, mà không lo Tu Tánh, kết quả Tâm phàm không
chút gì sửa đổi, Tu như thế làm sao mong ngày Đắc Đạo?
    Trong hai phần Tu Tánh, Tu Mạng, nếu phải bỏ lấy một thì nên lấy
phần Tu Tánh, cũng Đắc Thành Quả Vị.
     Xưa các vị La-Hán Bồ-Tát từng nguyện tu khổ hạnh, có người nguyện
suốt đời ngồi ngoài đồng trống mà tu; Có người nguyện suốt đời tu
không nằm; Có người nguyện ngồi nơi hang đá mà tu:- Kết quả giữ tròn
nguyện lực cũng được Đắc Thành Quả Vị.
     Ngày xưa các bậc Chơn Tu thường hay tìm nơi thanh vắng để tránh
khỏi sự xúc động về tinh thần, vào nơi thâm sơn, cùng cốc chịu mọi sự
khắc khổ, ngày thành mới đem thân cứu độ quần sinh, để làm tròn Sứ
mạng của  người Chơn Tu Đạo-Đức.
     Bây giờ các con sống trong cảnh đời náo nhiệt, nơi tu hành còn
thiếu phương tiện phân biệt Thánh phàm, đường tu Thầy thấy còn mong
manh yếu ớt, không biết ngày nào đổi phàm ra Thánh đó con?
     Thầy lấy làm lo cũng vì Nghiệp lực của  các con còn nặng, Thầy dù
hết lòng lo cứu độ các con, nhưng sự Tu Hành là cốt ở nơi con phải tự
lực, tự cường mà tinh tiến, Thầy chỉ là người dìu dẫn cho con qua
những chỗ quanh co, tăm tối mà thôi. Con có chịu đi Thầy mới có phương
điều độ chớ con quá nặng nề chậm chạp Thầy dù có thương biết làm sao
bồng ẵm cho được?
     Thầy cũng đồng ý với các con là đặt nặng vấn đề Sám Hối.
     Có Sám Hối thì mới tiêu nghiệt giải khiên.
     Nghiệt khiên, oan trái giải được rồi thì Thân Tâm mới được nhẹ
nhàng thanh khiết, đường tu nhân đó được hanh thông.
      Nhưng phương môn Sám Hối như thế nào mới thật diệt được nghiệp,
tiêu được khiên? Có phải là tự mình soát xét lại những điều tội lỗi,
hoặc do Tam nghiệp: Thân, Khẩu, Ý gây ra, hoặc do phiền não Tam Độc:
Tham, Sân, Si gây ra, hoặc do bởi căn trần cấu nhiễm, hoặc do Lục-Dục,
Thất-Tình mà có? Kiểm điểm thấy được lỗi lầm rồi con dốc một lòng ăn
năn sám hối.
      Ngày xưa A Nan bị sự cám dỗ của  Ma-đăng-già, sau khi được Phật
dùng Thần chú lăng nghiêm cứu độ.  A Nan về quỳ dưới chân Phật khóc
lóc thiết tha với tội lỗi của mình, nguyện với Phật dốc lòng lo tu, lo
học, mong Phật Từ-bi cứu độ. Nhờ đó mà từ một chỗ Thanh Văn phạm tội,
không bao lâu A Nan trở thành một vị
     La-Hán được Phật thọ ký làm Tổ thứ hai.
     Phương môn Sám Hối kết quả hay không là ở lòng biết ăn năn sám
hối, chừa đổi lỗi lầm, chứ sám hối ngày nầy qua ngày khác: Kinh đọc mà
lòng mà không chịu cải đổi, bịnh nào tật nấy còn nguyên, thì dù có đọc
muôn ức biến Kinh, quỳ cho lở gối cũng chẳng thuyên giảm một chút nào.
     Người Tu Hành điều cốt yếu là phải giữ Giới-Luật.  Giới Luật có
gìn giữ thì Nghiệp Thức mới bớt dấy sinh:
     Giới là gì? Có phải là điều răn cấm của chư Phật dạy chúng sanh
nương theo đó mà Tu Hành tránh điều tội lỗi không?
     Ví dụ răn dạy người chừa bỏ Dâm, Sát, Đạo, Vọng, là bốn món tội
nặng có thể đem người vào nơi Địa Ngục Ngạ Quỷ, Súc Sanh, không phương
cứu chuộc.
     - Dâm không phải là trái loạn luân thường mới là dâm. Một ý niệm
vi tế khởi lên, người tu cũng đã bị rồi. Hành dâm có nhiều hình thức.
Như các Trời ở cõi Dục- Giới, theo hình nam nữ, không Dục như chúng
sinh ở cõi Ta-bà nầy; Còn ở cõi Trời Sắc-Giới nam nữ nắm tay nhau hay
ngó nhau, cười nhau...; Ở cõi Vô-Sắc-Giới thì Tâm cảm nhau mà thọ
sinh. Người tu hành nếu không thoát ra những hình thức đó, thì phải
phạm giới cấm rồi. Mà đã phạm Dâm giới thì chịu luân hồi sanh tử, vì
còn ham sinh thì phải có sinh, mà có sinh thì có tử. Có sinh tử thì
còn chịu trong vòng Lục-Đạo luân hồi.
     - Sát không phải chỉ giết người, giết vật mới gọi là sát, mà tất
cả những loài bò bay máy cựa như muỗi, rệp, giết chúng nó là phạm tội
sát rồi. Cho đến ý nghĩ về việc sát hại chúng sinh cũng phạm giới.
Phạm giới sát thì người Chơn Tu đâu còn lòng Từ-bi, Bác-ái? Phạm nặng
thì luân hồi làm súc sinh để đền tội, phạm nhẹ thì mất lòng nhơn làm
sao chứng Quả Vị Bồ Tát?
     -Đạo không phải chỗ trộm cắp mà thôi! Người tu giải thoát xuất
gia nguyện phủi tay danh lợi, nhứt trần bất nhiễm mà còn để Tâm toan
tính việc Danh Lợi phần mình, thấy của dấy lòng ưa, lòng không tri
túc, Chơn Tâm, Tự Tánh bị Vọng Tâm Bát Thức mê hoặc mà ham danh chuộng
lợi thì làm sao giữ được lòng thanh tịnh, để tròn sự tu hành, mong
ngày Đắc Đạo? Phạm nặng thì bị làm Ngạ Quỷ, nhẹ thì tổn thất công đức
tu hành.
      -Vọng không đợi phải nói lời ác khẩu, nói thêu dệt nói hai lưỡi,
mà khi lòng tin còn kém, Tâm Ý không thật thà cũng đã phạm rồi. Mà đã
phạm thì dù có được sanh làm người cũng bị thiếu Lục-căn.
     Đó là Thầy nói qua để cho con chưa trọn Giới-Luật, hoặc hiểu một
cách đơn giản là phạm giới rốt cuộc chẳng thành gì cả. Thật rất tiếc
thương! Thôi mọi việc Thầy đã chỉ dạy, con nên noi theo để tu học…
     Thầy ban bồ đào, ban ơn lành cho các con Thầy thăng./.

Share:

google translation

Blogger Tips And Tricks|Latest Tips For BloggersFree BacklinksBlogger Tips And Tricks
English French German Spain Italian Dutch Russian Portuguese Japanese Korean Arabic Chinese Simplified
Powered By google

Tìm kiếm trong Blog này

LỜI NGỎ

Kính quý Huynh Tỷ, Đây là trang cá nhân, các bài được sưu tầm trên mạng để học hỏi và chia sẽ với bạn Đạo . Kính

XEM NHIỀU NHỨT

BÀI MỚI

Bài đăng phổ biến